Đất ở xã Phú Hòa Đông thay đổi rõ từ phía trong ra phía sông Sài Gòn. Vùng gò cao phía trong chủ yếu là đất xám hình thành trên nền phù sa cổ, nhẹ, nhiều cát, thoát nước tốt nhưng nghèo dinh dưỡng. Càng gần sông, mặt đất thấp dần, chuyển sang đất phù sa mịn, giữ nước tốt, ở vài chỗ trũng có thể có phèn. Hiểu loại đất dưới chân giúp chọn cây đúng, bón phân hợp lý và tránh sai lầm khi làm nền nhà, nền xưởng.
Bài không có bản đồ thổ nhưỡng chi tiết cho từng ấp, nên không chỉ đích danh khu nào là đất gì. Thay vào đó, bài giải thích cách nhận ra loại đất bằng mắt và tay, đặc tính của từng loại, và nơi có thể hỏi khi cần kết quả chính xác. Người trồng rau, nuôi bò, người mua đất làm nhà hay mở xưởng đều có thể dùng.
Vùng Củ Chi cũ nằm trên thềm phù sa cổ
Phần lớn đất của Củ Chi cũ nằm trên một bậc thềm cao hơn vùng đồng bằng thấp ở phía nam thành phố. Bậc thềm này do phù sa cổ bồi tụ từ rất lâu, sau đó trải qua hàng chục nghìn năm phong hoá. Lớp đất mặt bị rửa trôi chất dinh dưỡng và sét, còn lại nhiều cát, màu xám nhạt, nên được gọi là đất xám.
Bên dưới lớp đất xám thường là tầng đất có màu nâu vàng, nâu đỏ, chặt hơn, có nơi lẫn sỏi sắt, kết von. Chính tầng đất chặt này là lý do vùng Củ Chi có thể đào hầm sâu mà không sập, một chi tiết lịch sử nổi tiếng gắn với địa đạo ở các xã phía bắc. Ở Phú Hòa Đông, người đào ao, đào móng thường gặp tầng này ở các vùng gò.
Đi về phía sông Sài Gòn, bậc thềm hạ thấp dần xuống vùng đất trũng ven sông. Ở đây là đất phù sa trẻ do sông bồi gần đây hơn, hạt mịn, màu xám nâu, ẩm hơn hẳn. Ranh giới giữa hai vùng đất không phải đường thẳng, mà len lỏi theo những dải gò và rạch nhỏ.
So sánh nhanh đất gò và đất ven sông
Bảng dưới gom các đặc điểm chung, đủ để người không chuyên phân biệt khi đi xem đất. Mỗi thửa cụ thể có thể lệch đi tuỳ lịch sử canh tác.
| Đặc điểm | Đất xám vùng gò | Đất phù sa vùng trũng ven sông |
|---|---|---|
| Màu khi khô | Xám nhạt, xám trắng | Xám nâu, nâu sẫm |
| Cầm nắm khi ẩm | Rời, nhiều cát, khó nặn thành hình | Dẻo, dính tay, nặn được |
| Thoát nước | Nhanh, mưa xong ít đọng | Chậm, dễ đọng nước, có thể úng |
| Dinh dưỡng | Nghèo, cần bón nhiều hữu cơ | Khá hơn, nhưng có chỗ bị phèn |
| Hợp với | Cây cạn, rau ăn quả, cây lâu năm chịu hạn | Lúa, rau chịu ẩm, cỏ cho bò, chuối |
| Làm nền nhà | Nền tương đối chắc | Nền yếu, lún, cần xử lý móng |
Đây là so sánh khái quát. Muốn biết chính xác độ chua, độ phì hay sức chịu tải của đất, cần phân tích mẫu hoặc khảo sát địa chất.
Đất xám: dễ làm mà phải nuôi
Đất xám có ưu điểm là tơi, dễ cày xới, thoát nước nhanh, rễ cây dễ phát triển. Mùa mưa ruộng đất xám ít bị úng, xe và máy cày đi lại được ngay sau mưa. Đây là lý do vùng gò Củ Chi cũ từ lâu trồng được nhiều loại cây cạn như đậu, bắp, rau ăn quả và các loại cây công nghiệp, cây ăn trái chịu hạn.
Nhược điểm là đất giữ nước và giữ phân kém. Phân hoá học bón xuống dễ bị rửa trôi theo nước mưa, mùa khô đất khô nhanh, cây phải tưới thường xuyên. Đất xám thường hơi chua, càng bón nhiều phân hoá học mà thiếu hữu cơ thì đất càng chai, càng nghèo.
Cách nuôi đất xám mà người làm nông lâu năm vẫn dùng là tăng chất hữu cơ: bón phân chuồng ủ hoai, rơm rạ, xác thực vật, trồng xen cây họ đậu, phủ gốc để giữ ẩm. Ở một xã có nhiều hộ nuôi bò như Phú Hòa Đông, phân bò là nguồn hữu cơ sẵn có, chỉ cần ủ đúng cách để không mang mầm bệnh và hạt cỏ dại ra ruộng.
Đất phù sa ven sông: màu mỡ nhưng khó chiều
Đất phù sa ở vùng trũng ven sông Sài Gòn giữ ẩm tốt và giàu dinh dưỡng hơn đất xám, nên từ xưa đã được dùng làm ruộng lúa. Ngày nay, nhiều thửa chuyển sang trồng rau, cỏ cho bò, chuối hay hoa màu chịu ẩm. Cây trồng trên đất này thường xanh tốt mà không cần bón quá nhiều.
Khó khăn là đất thoát nước chậm. Gặp mưa lớn kéo dài hay triều cường, ruộng dễ bị úng, rễ cây cạn bị thối. Người trồng rau trên đất phù sa ven sông thường lên luống cao, đào rãnh thoát nước sâu, chọn giống chịu ẩm. Một số chỗ trũng lâu ngày có thể bị phèn: nước đọng có váng vàng, đất có mùi, cây vàng lá, còi cọc.
Với đất có phèn, các biện pháp thường được khuyến nông hướng dẫn là giữ nước để phèn không bị ô xy hoá, rửa phèn bằng nước ngọt, bón vôi theo liều phù hợp, không đào xới quá sâu làm lộ tầng phèn. Liều lượng cụ thể nên hỏi cán bộ khuyến nông hoặc dựa vào kết quả phân tích đất, vì bón vôi quá tay cũng gây hại.
Cách tự nhận biết đất bằng tay và mắt
Trước khi gửi mẫu đi phân tích, bạn có thể tự quan sát vài điều đơn giản để có cái nhìn ban đầu về thửa đất:
- Lấy một nắm đất ẩm ở độ sâu chừng một gang tay, bóp chặt rồi mở ra: đất rời ra là nhiều cát, đất giữ nguyên hình và dính tay là nhiều sét.
- Nhìn màu đất ở mặt và ở dưới sâu hơn: lớp trên xám nhạt, lớp dưới nâu đỏ chặt là kiểu đất gò thường gặp ở Củ Chi cũ.
- Sau trận mưa lớn, quan sát thửa đất: nước rút nhanh hay đọng lại thành vũng, đọng bao lâu.
- Xem nước đọng trong rãnh có váng vàng, vàng đỏ hay mùi lạ không, đó có thể là dấu hiệu phèn.
- Nhìn cỏ dại mọc tự nhiên: vùng gò khô và vùng trũng ẩm thường có các loài cỏ khác nhau, người làm nông lâu năm nhận ra rất nhanh.
- Hỏi chủ cũ hoặc hàng xóm thửa đất trước đây trồng gì, có từng ngập không, bón phân thế nào.
Những quan sát này chỉ là ước đoán. Với đất định đầu tư lớn, nên gửi mẫu phân tích tại các cơ sở có chức năng, hỏi trung tâm khuyến nông thành phố để biết nơi nhận mẫu.
Vòng tròn cỏ, bò, phân và đất
Ở những xã nuôi bò lâu năm của Củ Chi cũ, đất và con bò gắn với nhau thành một vòng khép kín. Đất trồng cỏ cho bò ăn, bò cho sữa và cho phân, phân được ủ rồi trả lại cho đất. Khi vòng tròn này vận hành tốt, đất xám vốn nghèo được nuôi dày lên qua từng năm, chi phí phân bón giảm, chuồng trại cũng bớt ô nhiễm.
Vòng tròn bị đứt khi phân không được ủ mà xả thẳng ra mương, hoặc bị chất đống ngoài trời cho mưa rửa trôi. Khi đó đất không được nuôi, còn nước kênh, nước sông thì bị bẩn. Một số hộ bán phân cho người trồng rau, trồng cây ăn trái ở nơi khác; cách này vẫn giữ được giá trị của phân, chỉ là đất nhà mình không được hưởng.
Ủ phân đúng cách cần chỗ ủ có mái che hoặc phủ bạt, nền không thấm để nước rỉ không ngấm xuống giếng, trộn thêm rơm rạ, cỏ khô cho tơi, có thể bổ sung chế phẩm vi sinh theo hướng dẫn của khuyến nông. Phân ủ hoai không còn mùi hôi nồng, màu nâu đen, tơi xốp, bón vào đất không làm cháy rễ cây.
Với người mới thuê đất trồng trọt trong xã, tìm được một hộ nuôi bò gần đó để mua hoặc đổi phân là cách nhanh nhất để cải tạo đất xám. Thoả thuận rõ phân đã ủ hay chưa, ủ bao lâu, để tránh mang mầm bệnh, hạt cỏ dại vào ruộng rau. Một xe phân ủ tốt bón đều cho ruộng mỗi năm thường đem lại khác biệt rõ hơn nhiều so với tăng liều phân hoá học, nhất là trên đất xám vùng gò.
Làm nền nhà, nền xưởng trên từng loại đất
Với việc xây dựng, sự khác nhau giữa đất gò và đất trũng còn rõ hơn. Đất gò phía trong thường có tầng đất chặt ở không quá sâu, nhà dân một hai tầng làm móng thông thường thường ổn. Đất phù sa vùng trũng ven sông là nền đất yếu, nhiều nước, công trình nặng dễ lún không đều nếu móng không được tính kỹ.
Nhiều thửa đất trũng được san lấp trước khi xây. Đất san lấp mới chưa kịp nén chặt, xây ngay trên đó thì nền nhà, sân xưởng dễ lún, nứt sau vài mùa mưa. Người mua đất nên hỏi đất đã san lấp từ bao giờ, bằng vật liệu gì, dày bao nhiêu, và với công trình lớn như xưởng, kho thì nên khảo sát địa chất trước khi thiết kế móng.
San lấp đất trũng còn kéo theo chuyện thoát nước của cả khu, được bàn riêng ở bài về chuyển đổi ruộng thành nền xưởng trong mục này. Ở góc thổ nhưỡng, điều cần nhớ là nền nhà trên đất ven sông luôn cần tính toán kỹ hơn, và chi phí móng có thể chiếm phần đáng kể trong tổng chi phí xây dựng.
Giữ đất cho đời sau
Đất là tài sản dài hạn nhất của một xã nông nghiệp. Những thửa đất xám bị khai thác kiệt bằng phân hoá học, đốt đồng, để trống mùa khô sẽ ngày càng nghèo, trồng gì cũng khó. Ngược lại, thửa đất được bón hữu cơ đều đặn, luân canh, phủ gốc có thể cải thiện rõ sau vài năm.
Đất phù sa ven sông thì cần được giữ khỏi ô nhiễm. Rác thải, nước thải chăn nuôi, thuốc bảo vệ thực vật dùng quá liều đều tích tụ trong đất trũng, nơi nước chảy về. Một khi đất đã nhiễm bẩn, việc phục hồi tốn kém và lâu dài hơn nhiều so với phòng ngừa.
Ngay cả khi gia đình định chuyển đất nông nghiệp sang mục đích khác, giữ đất sạch vẫn có lợi: đất không bị ô nhiễm thì dễ dùng vào việc khác, không phát sinh chi phí xử lý. Và với một xã ven đô như Phú Hòa Đông, những thửa ruộng còn xanh hôm nay cũng là khoảng thở của cả vùng.
Câu hỏi thường gặp
Đất ở Phú Hòa Đông chủ yếu là loại đất gì?
Vùng gò phía trong chủ yếu là đất xám trên nền phù sa cổ, nhẹ, nhiều cát, thoát nước tốt. Vùng trũng gần sông Sài Gòn là đất phù sa mịn, giữ nước tốt, có chỗ có phèn. Ranh giới hai vùng len lỏi theo địa hình chứ không thẳng hàng.
Đất xám trồng rau có được không?
Được, nhưng cần bón nhiều phân hữu cơ, tưới đều và phủ gốc giữ ẩm vì đất xám nghèo dinh dưỡng và khô nhanh. Phân bò ủ hoai là nguồn hữu cơ sẵn có trong xã, giúp đất tơi xốp và giữ phân tốt hơn qua thời gian.
Làm sao biết đất có bị phèn không?
Một số dấu hiệu là nước đọng có váng vàng hoặc vàng đỏ, đất có mùi lạ, cây vàng lá, còi cọc ở chỗ trũng. Để chắc chắn nên lấy mẫu đất phân tích độ chua, hỏi cán bộ khuyến nông về cách xử lý và liều vôi phù hợp.
Mua đất trũng ven sông để xây nhà có nên không?
Có thể xây, nhưng cần tính kỹ móng vì nền đất yếu, hỏi rõ đất đã san lấp bao lâu, có từng ngập không và có nằm trong hành lang bảo vệ bờ sông không. Với công trình lớn nên khảo sát địa chất trước khi thiết kế.
Có nơi nào phân tích mẫu đất cho người dân không?
Có các phòng thí nghiệm, trung tâm chuyên môn về nông nghiệp nhận phân tích mẫu đất. Cách đơn giản là hỏi trung tâm khuyến nông thành phố hoặc cán bộ nông nghiệp của xã để được chỉ nơi nhận mẫu và cách lấy mẫu đúng.