Bãi bồi ven sông Sài Gòn là những vạt đất thấp, mềm, do phù sa lắng đọng ở phía bờ lồi của các khúc sông hoặc ở những chỗ nước chảy chậm. Ở Phú Hòa Đông, bãi bồi thường bị ngập một phần khi nước lớn và lộ ra khi nước ròng. Người dân dùng bãi để cắt cỏ cho bò, trồng chuối, trồng rau ngắn ngày ở phần cao hơn, nhưng phải chấp nhận rủi ro ngập và những giới hạn về quản lý đất ven sông.
Bài này giúp người mới về xã phân biệt bãi bồi với đất ruộng thường, hiểu vì sao bãi màu mỡ mà không ổn định, cây cỏ nào thường mọc trên bãi, và những điều cần biết trước khi canh tác hay rào chắn bãi sông. Bài không nói tới diện tích hay vị trí cụ thể từng bãi vì bãi thay đổi theo năm, có bãi bồi thêm, có bãi bị dòng sông lấy lại.
Bãi bồi hình thành như thế nào
Nước sông Sài Gòn mang theo phù sa mịn, nhiều nhất vào mùa mưa. Khi dòng chảy chậm lại, ở phía trong khúc cong, trong các vịnh nhỏ ven bờ, hay ở vùng nước đứng lúc chuyển con nước, các hạt phù sa lắng xuống từng lớp mỏng. Năm này qua năm khác, lớp đất ấy dày lên, cao dần cho tới khi chỉ ngập lúc nước lớn, rồi có cỏ mọc, có cây bám rễ.
Vì quá trình này phụ thuộc vào dòng chảy, bãi bồi thường đi đôi với bờ lở ở phía đối diện hoặc ở khúc sông kế bên. Đất bị khoét ở chỗ này trôi xuống, lắng lại ở chỗ khác. Người ven sông lâu năm hay nói dòng sông lấy chỗ này bù chỗ kia, một cách diễn đạt dân dã nhưng khá đúng với cơ chế tự nhiên.
Hồ Dầu Tiếng ở thượng nguồn giữ lại một phần phù sa trong lòng hồ, nên lượng phù sa xuống hạ du có thể ít hơn so với khi sông chảy tự do. Cộng thêm việc khai thác cát, nhiều nơi bãi bồi mới ít hình thành hơn, trong khi bờ lở vẫn tiếp tục. Đó là một lý do bãi bồi hiện có trở nên đáng giữ.
Đất bãi khác đất ruộng trong xã ra sao
Đất bãi là đất phù sa trẻ, hạt mịn, màu nâu xám, giữ ẩm tốt và khá giàu dinh dưỡng so với đất xám trên vùng gò của Củ Chi cũ. Cầm một nắm đất bãi lúc ẩm, bạn sẽ thấy nó dẻo, dính tay, có thể nặn thành hình, khác hẳn đất xám rời, nhiều cát ở phía trong xã. Đây là lý do rau, chuối, cỏ trên bãi thường xanh tốt mà không cần bón nhiều.
Nhưng đất bãi cũng có nhược điểm. Nó thường ngậm nước, thoát nước kém, rễ cây cạn dễ bị úng khi nước lớn kéo dài. Một số chỗ trũng có thể có phèn, nước đọng có váng vàng hoặc đỏ, cây trồng còi cọc. Đất bãi lại mềm, đi lại khó, máy móc nặng dễ bị lún, nên canh tác trên bãi chủ yếu làm bằng tay.
Quan trọng nhất, đất bãi không ổn định. Một mùa nước lớn có thể phủ thêm lớp phù sa mới, cũng có thể cuốn mất một mảng. Người canh tác trên bãi vì vậy hiếm khi đầu tư lớn, không xây công trình kiên cố, mà chọn cây ngắn ngày hoặc cây chịu được ngập để giảm thiệt hại.
Cây cỏ thường gặp trên bãi và mép bờ
Cỏ và lau sậy. Phần lớn bãi bồi được phủ bởi các loại cỏ mọc tự nhiên, xen với lau, sậy ở chỗ ẩm. Thảm cỏ dày giúp giữ lớp đất mặt khi nước lên xuống, đồng thời là nguồn thức ăn cho bò mà nhiều hộ trong xã vẫn cắt mỗi ngày.
Lục bình. Lục bình trôi theo con nước, dạt vào mép bãi thành từng đám. Lục bình che mặt nước, làm chậm dòng chảy sát bờ, nhưng khi quá dày có thể làm tắc cửa mương, cửa cống. Một số nơi ở Nam Bộ vớt lục bình phơi khô làm nguyên liệu đan lát, còn ở xã chủ yếu vớt để thông dòng.
Tre và cây tạp ven bờ. Trên phần bờ cao hơn bãi thường có bụi tre, cây tạp mọc lâu năm. Chúng che mát, giữ đất mặt, là nơi chim làm tổ. Nhưng như đã nói ở bài về sạt lở, bụi tre quá lớn ở đoạn bờ đã bị khoét chân lại thành gánh nặng.
Dừa nước và cây chịu ngập. Ở một số đoạn sông thấp, có thể thấy dừa nước hoặc những cây chịu ngập khác mọc thành dải. Dừa nước thường gắn với vùng nước lợ phía hạ lưu, nên ở đoạn trung lưu như Phú Hòa Đông nó không phổ biến bằng các vùng gần biển; thấy loài nào thì hỏi người địa phương để gọi đúng tên.
Rau dại. Mép bãi và bờ mương thường có rau muống, rau dừa, rau má và các loại rau dại khác. Người lớn tuổi vẫn hái về ăn, nhưng ở những đoạn gần chỗ xả thải chăn nuôi hay gần đường lớn, nên cân nhắc vì nước có thể không sạch.
Người Phú Hòa Đông dùng bãi bồi vào việc gì
Công dụng phổ biến nhất của bãi là cung cấp cỏ cho bò. Xã Phú Hòa Đông mới gồm những vùng nuôi bò lâu năm của Củ Chi cũ, và với hộ nuôi bò nhỏ, cỏ cắt ở bãi ven sông, bờ kênh là nguồn thức ăn xanh rẻ. Có hộ trồng thêm cỏ trên phần bãi cao để chủ động hơn, vì cỏ chịu được ẩm và cắt được nhiều lứa.
Phần bãi cao, ít ngập hơn, có hộ trồng chuối, rau ngắn ngày, hoa màu theo mùa. Những loại cây này thu hoạch nhanh, nếu nước lớn bất thường thì thiệt hại không quá nặng. Một số chỗ trước đây làm ruộng lúa nhờ nước sông, nay nhiều nơi bỏ lúa vì công lao động cao và hiệu quả thấp.
Bãi còn là nơi đặt lờ, giăng lưới bắt cá, tép khi nước lên, nơi trẻ con trong xóm từng ra thả diều, chơi đùa. Ngày nay, với nhiều người thành phố đi chơi cuối tuần, một bãi cỏ ven sông lúc chiều là cảnh đẹp đáng dừng lại, dù chuyện cảnh quan và đi chơi thuộc một mục khác của trang.
Những giới hạn khi dùng bãi bồi
Bãi bồi và phần đất sát mép sông thường nằm trong hành lang bảo vệ bờ sông, thuộc diện nhà nước quản lý chặt. Nhiều phần bãi chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cá nhân; người dân canh tác theo thói quen hoặc theo thoả thuận tạm. Vì vậy, không nên mua bán, rào chắn hay xây dựng trên bãi khi chưa hỏi rõ tình trạng pháp lý tại UBND xã.
Rào bãi bằng cọc bê tông, đổ đất nâng cao bãi để trồng cây lâu năm hay làm chuồng trại có thể bị coi là lấn chiếm lòng sông, ảnh hưởng tới dòng chảy và thoát lũ. Việc tự ý nâng bãi cũng có thể đẩy dòng chảy sang bờ đối diện hoặc đoạn kế bên, làm lở đất của người khác.
Về an toàn, bãi bồi lúc nước ròng nhìn chắc nhưng có chỗ bùn rất sâu. Khi cắt cỏ, dắt bò ra bãi, nên đi theo lối mòn quen, tránh xuống bãi một mình lúc trời tối hoặc lúc nước đang lên nhanh. Bò cũng có thể bị sa lầy ở mép bãi, nên buộc dây ở chỗ đất cứng.
Tôm cá và sinh vật nhỏ quanh vùng bãi
Mỗi lần nước lớn tràn lên bãi, nước sông mang theo cá con, tép, ốc vào vùng cỏ ngập nông. Đây là nơi chúng tìm mồi và trú ẩn, tránh dòng chảy mạnh ngoài lòng sông. Khi nước ròng, một phần theo nước rút ra, một phần ở lại trong các vũng nhỏ, rãnh nước trên bãi. Người ven sông từ lâu đã biết đặt lờ, đặt đó ở các rãnh này, bắt cá tép vừa đủ bữa.
Những loài người dân hay nhắc tới quanh bãi và bờ mương là cá lóc, cá rô, cá trê, lươn, tép, cua đồng, ốc, tuỳ mùa và tuỳ chất lượng nước. Bài không liệt kê chắc chắn loài nào còn nhiều, loài nào đã hiếm, vì không có số liệu điều tra riêng cho đoạn sông qua xã. Cảm nhận chung của người lớn tuổi là cá tự nhiên ít hơn trước, và lý do thường được nhắc là đánh bắt bằng xung điện, lưới mắt nhỏ, cùng với nước bẩn từ sinh hoạt và chăn nuôi.
Chim cũng gắn với bãi bồi. Cò, diệc, chim bói cá hay xuất hiện lúc nước ròng để kiếm mồi trên bãi bùn. Ai thích ngắm chim nên ra bãi vào sáng sớm hoặc chiều muộn, giữ khoảng cách, không ném đá hay xua đuổi. Một bãi còn nhiều chim là dấu hiệu nguồn thức ăn trong nước vẫn còn khá.
Đánh bắt bằng xung điện bị pháp luật cấm vì giết cả cá con, tép, ốc trong phạm vi rộng, làm cạn kiệt nguồn lợi cho cả xóm. Thấy người dùng kích điện trên sông hay trong mương, bạn có thể báo trưởng ấp hoặc công an xã. Đây là cách bảo vệ thiết thực nhất cho những bữa cá đồng mà nhiều gia đình trong xã vẫn quý.
Giữ bãi bồi là giữ cả bờ sông
Bãi bồi có giá trị lớn hơn vài mẫu cỏ. Nó như tấm đệm giữa dòng sông và đất ở phía trong: sóng tàu, dòng chảy mạnh tiêu hao năng lượng trên bãi trước khi chạm tới bờ chính. Bãi cũng là nơi trữ tạm nước khi triều cường, nơi tôm cá nhỏ sinh sống, nơi lọc bớt chất bẩn trong nước trước khi ra sông.
Khi bãi bị san lấp, bị đào lấy đất hay bị khai thác cát gần kề, những chức năng đó mất đi, bờ phía trong phải chịu trực tiếp dòng chảy. Nhiều đoạn sông ở Nam Bộ cho thấy sạt lở gia tăng sau khi bãi phía trước bờ bị mất. Giữ bãi là cách rẻ nhất để giữ bờ.
Với người dân, giữ bãi nghĩa là không đổ rác, xác động vật, phân chuồng chưa xử lý xuống bãi; không đào đất bãi đem bán; giữ thảm cỏ thay vì đốt trụi; và báo cho chính quyền khi thấy hoạt động khai thác cát, lấn chiếm bất thường. Những việc nhỏ ấy, nếu nhiều hộ cùng làm, có ý nghĩa với cả khúc sông. Người con xã đi xa về quê, thấy bãi cỏ ven sông vẫn còn, bò vẫn gặm cỏ ven bờ lúc chiều, cũng là thấy một phần ký ức được giữ lại, thứ mà nhiều vùng ven đô khác đã mất hẳn khi bờ sông bị bê tông hoá hoàn toàn.
Câu hỏi thường gặp
Bãi bồi ven sông Sài Gòn có phải đất của ai không?
Nhiều phần bãi và đất sát mép sông nằm trong hành lang bảo vệ bờ sông, do nhà nước quản lý, chưa chắc đã cấp giấy cho cá nhân. Người dân có thể canh tác theo thói quen, nhưng trước khi mua bán hay xây dựng cần hỏi rõ tại UBND xã.
Đất bãi bồi trồng gì thì hợp?
Đất bãi giàu phù sa, giữ ẩm tốt nên hợp với cỏ cho bò, chuối, rau ngắn ngày và hoa màu chịu ẩm. Không nên trồng cây lâu năm cần đầu tư lớn vì bãi dễ bị ngập kéo dài hoặc bị dòng sông cuốn mất.
Vì sao bãi bồi ở chỗ này lớn dần còn chỗ khác lại mất?
Dòng sông khoét đất ở bờ lõm của khúc cong và lắng phù sa ở bờ lồi, nơi nước chảy chậm. Đất mất ở chỗ này thường bồi ra ở chỗ khác. Khai thác cát và hồ chứa phía trên cũng làm thay đổi lượng phù sa có thể bồi lại.
Có được đổ đất nâng bãi để làm vườn không?
Không nên tự ý làm. Nâng bãi có thể bị coi là lấn chiếm lòng sông, ảnh hưởng dòng chảy và thoát lũ, lại có thể đẩy dòng nước làm lở đất nhà khác. Mọi việc san lấp gần sông nên hỏi UBND xã về quy định trước.
Dắt bò ra bãi sông có nguy hiểm không?
Có những chỗ bùn rất sâu, nhất là mép bãi lúc nước ròng, bò và người đều có thể bị sa lầy. Nên đi theo lối quen, buộc bò ở chỗ đất cứng, tránh ra bãi lúc trời tối hoặc khi nước đang lên nhanh, và không để trẻ em đi một mình.