Ở Phú Hòa Đông, câu hỏi nhà dùng nước gì quan trọng hơn ở phố nhiều: có nhà đã dùng nước máy, có nhà vẫn dùng giếng khoan, nhiều nhà dùng cả hai cho những việc khác nhau. Hiểu nguồn nước của nhà mình, biết khi nào nước có vấn đề và cách xử lý trong nhà là một trong những việc đầu tiên khi về xã sống.
Bài này nói về nước dùng trong nhà, nước để uống, nấu ăn, tắm giặt, ở xã Phú Hòa Đông mới gồm Phú Hòa Đông, Tân Thạnh Đông và Tân Thạnh Tây cũ. Chuyện nước tưới ruộng, kênh thuỷ lợi và giếng tưới mùa hạn đã có ở mục sông Sài Gòn và đất đai; ở đây chỉ tập trung vào chuyện sức khoẻ cả nhà.
Ba nguồn nước trong một xã ven đô
Nguồn thứ nhất là nước máy. Mạng cấp nước của thành phố đã được kéo về nhiều tuyến đường ở các xã ngoại thành, trong đó có vùng Củ Chi cũ, theo chương trình đưa nước sạch về nông thôn. Nhà nằm ven tỉnh lộ và các đường lớn thường có ống nước máy đi qua; nhà sâu trong ấp thì tuỳ tuyến, có nơi đã có, có nơi chưa. Nước máy được xử lý tại nhà máy và kiểm soát chất lượng theo quy chuẩn, nên là nguồn an toàn nhất để ăn uống khi đường ống và bồn chứa trong nhà được giữ sạch.
Nguồn thứ hai là giếng khoan. Trước khi có nước máy, gần như nhà nào ở vùng này cũng có giếng, và nhiều nhà vẫn giữ để tưới vườn, rửa chuồng bò, giặt giũ, vì nước giếng không tính tiền theo khối. Chất lượng nước giếng khác nhau nhiều giữa các nhà, tuỳ độ sâu, vị trí, khoảng cách tới chuồng trại, nhà vệ sinh và tuổi của giếng.
Nguồn thứ ba là nước mua theo bình, dùng để uống. Nhiều gia đình, kể cả nhà có nước máy, vẫn đặt nước bình cho tiện. Đây là lựa chọn hợp lý khi chưa chắc về nguồn nước trong nhà, nhưng không giải quyết chuyện nước tắm, nước nấu ăn và nước rửa rau, vẫn phải dùng nguồn tại chỗ.
Dấu hiệu nước giếng có vấn đề
Màu vàng hoặc cặn đỏ nâu. Thường do sắt trong nước ngầm. Để nước một lúc thấy đổi màu, bám vàng lên thành lu, bồn, quần áo trắng bị ố. Nước nhiễm sắt có mùi tanh, khó chịu khi uống, làm hỏng đồ dùng, nhưng xử lý được bằng bộ lọc phù hợp.
Vị chua, ăn mòn vòi. Nước ngầm ở vùng đất xám có nơi có độ pH thấp, tức là chua. Dấu hiệu là vòi đồng, ống kim loại bị gỉ nhanh, ấm nấu nước đóng cặn lạ. Nước chua về lâu dài không tốt cho sức khoẻ và thiết bị.
Mùi hôi, mùi trứng thối hoặc mùi phân. Mùi lạ, nhất là sau mưa lớn, có thể là dấu hiệu nước bề mặt hoặc nước thải từ chuồng trại, hố xí tràn vào giếng. Đây là tình huống nguy hiểm, cần ngưng dùng để ăn uống ngay.
Nước đục sau mưa. Giếng nông hoặc thành giếng nứt để nước mưa chảy thẳng xuống. Nước đục mang theo đất, vi sinh và đôi khi cả thuốc bảo vệ thực vật từ ruộng.
Người trong nhà hay đau bụng, tiêu chảy. Khi nhiều người trong nhà cùng có triệu chứng mà không rõ nguyên nhân, nguồn nước là một trong những thứ cần nghĩ tới. Nên đi khám và kiểm tra nước song song.
Xét nghiệm nước: khi nào và làm thế nào
Không thể biết nước có an toàn hay không chỉ bằng mắt. Nước trong veo vẫn có thể nhiễm vi khuẩn hoặc chứa chất hoà tan không thấy được. Vì vậy, nếu nhà dùng giếng cho ăn uống, nên xét nghiệm ít nhất một lần khi mới về ở, lặp lại định kỳ và mỗi khi thấy dấu hiệu bất thường hoặc sau những đợt ngập.
Mẫu nước thường được gửi tới các trung tâm y tế dự phòng, trung tâm kiểm nghiệm hoặc phòng thí nghiệm có chức năng phân tích nước. Trước khi lấy mẫu, nên hỏi nơi xét nghiệm cách lấy và bảo quản: thường phải dùng chai sạch do họ cấp, xả vòi một lúc rồi mới hứng, giữ lạnh và gửi trong ngày. Nên đề nghị phân tích các chỉ tiêu cơ bản như độ pH, sắt, mangan, độ cứng, amoni, nitrat và vi sinh vật, vì đây là những vấn đề hay gặp ở nước ngầm vùng nông nghiệp có chăn nuôi.
Kết quả xét nghiệm là căn cứ để chọn cách xử lý. Mua bộ lọc khi chưa biết nước bị gì cũng giống mua thuốc khi chưa biết bệnh: có khi tốn tiền mà không giải quyết đúng vấn đề. Trạm y tế xã có thể hướng dẫn nơi xét nghiệm gần nhất và giải thích kết quả ở mức cơ bản.
Chọn cách xử lý theo vấn đề của nước
Mỗi vấn đề cần một cách xử lý khác nhau. Bảng dưới là nguyên tắc chung để trao đổi với người bán thiết bị hoặc thợ lắp đặt, không thay cho tư vấn theo kết quả xét nghiệm cụ thể:
| Vấn đề | Cách xử lý thường dùng | Ghi chú |
|---|---|---|
| Nhiều sắt, mangan, nước vàng | Làm thoáng cho sắt kết tủa, lọc qua cát, vật liệu khử sắt | Phải rửa, thay vật liệu lọc định kỳ |
| Nước chua, pH thấp | Vật liệu nâng pH trong cột lọc | Kiểm tra lại pH sau khi lắp |
| Đục, nhiều cặn | Lắng trong bồn, lọc thô trước khi vào máy lọc | Bồn lắng cần súc rửa thường xuyên |
| Nhiễm vi sinh | Đun sôi nước uống; khử trùng giếng theo hướng dẫn y tế; xử lý nguồn ô nhiễm gần giếng | Không dùng nước chưa xử lý để uống |
| Amoni, nitrat cao | Thiết bị lọc chuyên dụng; cân nhắc chuyển sang nước máy để ăn uống | Thường liên quan chăn nuôi, phân bón |
Máy lọc nước gia đình loại đặt dưới bồn rửa chỉ phù hợp để làm sạch thêm nước uống, không xử lý được nước giếng quá xấu. Với nước giếng nhiều sắt và cặn, cần hệ lọc tổng ở đầu nguồn trước, rồi mới tới máy lọc nước uống.
Giữ giếng sạch và vệ sinh bồn chứa
Giếng khoan an toàn hơn khi miệng giếng được bịt kín, có sàn bê tông quanh miệng và cao hơn mặt đất để nước mưa không chảy xuống. Giếng nên cách xa chuồng bò, hố xí, hố ủ phân và nơi chứa thuốc bảo vệ thực vật. Nhà nuôi bò cần đặc biệt để ý đường đi của nước thải chuồng: nếu nước thải chảy về phía giếng hoặc ngấm quanh giếng, sớm muộn gì cũng ảnh hưởng.
Bồn chứa nước trên mái hoặc trên chân đế là nơi cặn lắng tích tụ. Bồn không vệ sinh lâu ngày có lớp bùn ở đáy, có khi có cả rêu và lăng quăng nếu nắp đậy không kín. Nên súc rửa bồn định kỳ vài tháng một lần, thường xuyên hơn nếu dùng nước giếng nhiều cặn. Cách làm cơ bản là xả cạn, cọ thành bồn, xả sạch nước bẩn ra ngoài, không dùng hoá chất tẩy mạnh để lại mùi.
Sau mỗi đợt ngập, nước có thể tràn vào giếng và bể chứa. Lúc đó không nên dùng nước giếng để uống, nấu ăn cho tới khi giếng được khử trùng theo hướng dẫn và nước được kiểm tra lại. Trong thời gian chờ, dùng nước máy hoặc nước bình. Trạm y tế xã thường có hướng dẫn cách khử trùng giếng sau ngập.
Đấu nối nước máy: những điều nên biết
Nếu tuyến đường trước nhà đã có ống nước máy, việc đấu nối thường gồm nộp đơn đề nghị với đơn vị cấp nước phụ trách khu vực, kèm giấy tờ chứng minh nhà ở hoặc quyền sử dụng đất, sau đó đơn vị cấp nước khảo sát, lắp đồng hồ và nối ống vào nhà. Thủ tục, chi phí lắp đặt và thời gian có thể khác nhau theo từng đơn vị và từng thời điểm, nên hỏi trực tiếp đơn vị cấp nước hoặc hỏi ở UBND xã để được chỉ đúng nơi.
Nhà nằm xa tuyến ống có khi phải chờ mở rộng mạng lưới. Nhiều ấp đã được kéo ống thông qua các chương trình nước sạch nông thôn; người dân có thể hỏi trưởng ấp về kế hoạch kéo ống trong khu vực. Trong lúc chờ, nên đầu tư một hệ lọc giếng đúng loại và dùng nước bình để uống.
Khi đã có nước máy mà vẫn giữ giếng, cần tách riêng hai đường ống. Đường nước máy không được nối thông với đường nước giếng, vì nước giếng có thể chảy ngược vào mạng nước máy, làm ô nhiễm cả nguồn chung. Nên dùng nước máy cho ăn uống, nấu nướng, tắm rửa; nước giếng dành cho tưới cây, rửa sân, rửa chuồng. Cách chia này vừa an toàn vừa tiết kiệm.
Sau khi có nước máy, đừng vội lấp giếng cũ nếu vẫn còn dùng cho tưới tiêu. Nhưng giếng không dùng nữa thì nên trám lấp đúng cách thay vì bỏ hoang, vì giếng hở là đường đưa nước bẩn bề mặt xuống tầng nước ngầm mà cả xóm đang dùng, đồng thời là chỗ nguy hiểm cho trẻ nhỏ và vật nuôi.
Nước trong nhà theo mùa: dự trữ, cúp nước và tiết kiệm
Mùa khô ở vùng Củ Chi cũ kéo dài nhiều tháng, nắng gắt, mực nước ngầm hạ xuống. Nhà dùng giếng nông có thể thấy nước yếu dần, bơm lâu mới đầy bồn, nước đổi màu hoặc nhiều cặn hơn vào cuối mùa. Nhà dùng nước máy thì ít lo cạn, nhưng thỉnh thoảng có đợt cúp nước để sửa chữa đường ống hoặc áp lực yếu vào giờ cao điểm buổi sáng và chiều tối, khi cả xóm cùng dùng.
Cách đối phó đơn giản nhất là có đủ dung tích chứa. Một bồn chứa đủ dùng cho cả nhà trong một hai ngày giúp không bị động khi cúp nước. Bồn đặt trên cao để nước tự chảy, kèm máy bơm tăng áp nếu nhà hai tầng. Nhà có người già, trẻ nhỏ nên dự trữ thêm vài bình nước uống, nhất là trước những đợt đã có thông báo cúp nước.
Mùa mưa thì ngược lại: nước nhiều nhưng dễ bẩn. Mưa lớn kéo dài có thể làm nước giếng nông đục, nước mặt tràn vào bể ngầm nếu nắp không kín. Đây là lúc nên dùng nước máy cho ăn uống nếu có, đậy kín mọi bể chứa, và kiểm tra lại miệng giếng.
Tiết kiệm nước trong nhà cũng là tiết kiệm điện, vì nước giếng phải bơm. Những thói quen hữu ích gồm sửa ngay vòi rò, dùng nước vo gạo, nước rửa rau để tưới cây, giặt đủ mẻ mới chạy máy, hứng nước mưa sạch từ mái vào lu để tưới vườn và rửa sân. Nhà nuôi bò dùng nhiều nước cho vệ sinh chuồng nên tách đồng hồ hoặc đường bơm riêng cho chuồng, để biết chính xác mỗi tháng tốn bao nhiêu và điều chỉnh.
Câu hỏi thường gặp
Nước giếng ở Phú Hòa Đông có uống được không?
Không thể khẳng định chung cho mọi giếng. Chất lượng khác nhau tuỳ độ sâu, vị trí và khoảng cách tới chuồng trại. Nên xét nghiệm nước trước khi dùng để uống; khi chưa có kết quả, dùng nước máy hoặc nước bình, hoặc đun sôi kỹ.
Nước giếng màu vàng, có mùi tanh là do đâu?
Thường do sắt và mangan có sẵn trong nước ngầm. Nước như vậy làm ố đồ, khó uống, nhưng xử lý được bằng làm thoáng và cột lọc khử sắt. Nên xét nghiệm để biết chính xác hàm lượng trước khi chọn thiết bị.
Bao lâu nên súc rửa bồn nước một lần?
Thông thường vài tháng một lần, thường xuyên hơn nếu dùng nước giếng nhiều cặn hoặc sau khi bị ngập. Bồn phải có nắp đậy kín để tránh rêu, côn trùng và lăng quăng muỗi sinh sôi bên trong.
Muốn lắp nước máy thì hỏi ở đâu?
Hỏi đơn vị cấp nước phụ trách khu vực hoặc hỏi UBND xã Phú Hòa Đông để được chỉ đúng nơi nộp đơn. Thủ tục và chi phí lắp đặt có thể thay đổi, nên hỏi trực tiếp trước khi chuẩn bị giấy tờ.
Có nối chung đường nước máy và nước giếng được không?
Không nên. Nối thông có thể làm nước giếng chảy ngược vào mạng nước máy và gây ô nhiễm. Nên đi hai đường ống riêng, dùng nước máy cho ăn uống và tắm rửa, nước giếng cho tưới vườn, rửa sân, rửa chuồng.
Sau khi ngập, nước giếng dùng lại lúc nào?
Chỉ dùng lại cho ăn uống sau khi giếng đã được khử trùng theo hướng dẫn và nước được kiểm tra. Trong thời gian chờ, dùng nước máy hoặc nước bình, bỏ thực phẩm bị ngâm nước và hỏi trạm y tế xã cách xử lý giếng.