Vùng đất nay là xã Phú Hòa Đông được khai phá theo con đường quen thuộc của miền Đông Nam Bộ: người đến theo sông, dừng ở những khúc bờ có bến ghé, lập xóm trên đất gò cao ráo, rồi mở ruộng xuống phía bưng trũng ven sông. Từ ruộng lúa và hoa màu ngày trước đến ruộng rau, trại bò sữa và xưởng nhỏ ngày nay, cách người dân sống luôn bị chi phối bởi hai thứ: dòng sông và thế đất.
Bài này đọc lịch sử khai phá qua địa hình và qua những tên đất còn lại như bến, láng, cây mốc. Không có tư liệu phổ thông nào ghi rõ ai là người đầu tiên đến Phú Hòa Đông hay Tân Thạnh, đến năm nào, từ đâu. Vì vậy những gì viết về thời khai phá ở đây là bức tranh chung của vùng, được nhiều công trình nghiên cứu Nam Bộ ghi nhận, áp vào điều kiện cụ thể của một xã ven sông Sài Gòn. Chỗ nào là suy luận sẽ nói rõ là suy luận.
Theo dòng sông mà đến
Trước khi có đường bộ, sông là đường lớn nhất của miền Nam. Từ vùng Bến Nghé, Sài Gòn, ghe thuyền ngược sông Sài Gòn lên phía bắc, đi qua vùng Hóc Môn, Củ Chi rồi lên Thủ Dầu Một, Dầu Tiếng. Những người đến lập nghiệp từ thế kỷ 17, 18, phần lớn là người Việt từ miền Trung vào theo đợt di dân của thời chúa Nguyễn, đã theo dòng nước này mà tìm đất.
Một khúc sông thuận cho lập xóm thường hội đủ vài điều: bờ không quá dốc để ghe ghé được, có rạch nhỏ dẫn vào phía trong, gần đó có đất cao không ngập khi nước lớn. Những chỗ như vậy thành bến, và quanh bến dần có nhà, có ruộng, có chợ nhỏ. Tên các ấp, các đường có chữ "Bến" ở Phú Hòa Đông như Bến Cỏ, Bến Than là dấu vết của lối sống quanh bến ấy, dù tên cụ thể ra đời lúc nào thì chưa rõ.
Sông còn là nguồn sống trực tiếp: cá tôm, nước tưới, phù sa bồi cho bãi ven bờ. Nhưng sông cũng mang theo nỗi lo, như nước lớn tràn bờ, sạt lở, và về sau là chiến tranh dọc theo hành lang sông. Mối quan hệ vừa nương tựa vừa dè chừng ấy là cái nền của đời sống ven sông Sài Gòn cho đến tận hôm nay.
Đất gò và đất bưng: hai thế đất, hai cách sống
Đặc điểm địa hình dễ thấy nhất ở phía đông Củ Chi cũ là sự chuyển tiếp từ vùng đất cao phía tây xuống vùng thấp ven sông. Vùng cao là đất xám, đất gò, thoát nước tốt, không ngập; vùng thấp sát sông là đất phù sa, đất bưng, láng, hay đọng nước vào mùa mưa và chịu ảnh hưởng của con nước lớn ròng từ sông.
Người khai phá thường dựng nhà trên đất gò để tránh ngập, đào giếng lấy nước, trồng hoa màu và cây lâu năm quanh nhà; còn đất trũng ven sông dành làm ruộng lúa nước. Lối bố trí "nhà trên gò, ruộng dưới bưng" gặp ở rất nhiều làng miền Đông Nam Bộ. Ở vùng Phú Hòa Đông, có thể hình dung các xóm cũ chạy theo những dải đất cao, song song với sông, còn ruộng trải xuống phía bờ.
Những từ dân gian như "láng" trong tên đường Láng The, hay "bưng", "bàu", "gò" thường gặp ở vùng Củ Chi, chính là cách người xưa gọi tên từng thế đất. Hiểu những từ này giúp người nay đọc được địa hình quê mình ngay cả khi đồng ruộng đã bị nhà cửa, xưởng xá che khuất.
Những từ chỉ thế đất hay gặp ở vùng ven sông Sài Gòn
Bảng dưới đây giải nghĩa một số từ chỉ địa hình quen thuộc của Nam Bộ, có mặt trong tên đất, tên đường của vùng. Nghĩa ghi theo cách dùng phổ biến; ở từng nơi có thể có sắc thái riêng.
| Từ | Nghĩa phổ biến | Thường dùng làm gì xưa | Gặp ở Phú Hòa Đông |
|---|---|---|---|
| Gò | Đất cao hơn xung quanh, không ngập | Dựng nhà, trồng hoa màu, cây lâu năm | Vùng phía trong, xa sông |
| Láng | Đất trũng, hay đọng nước, cỏ lác mọc | Ruộng mùa mưa, chăn thả | Tên đường Láng The |
| Bưng, bàu | Vùng trũng ngập nước lâu, ao đầm tự nhiên | Bắt cá, trồng lúa mùa, cây chịu nước | Vùng sát sông, ven rạch |
| Bến | Chỗ ghe thuyền ghé, bờ sông có lối xuống | Chở lúa, chở hàng, lấy nước, tắm giặt | Ấp Bến Cỏ, đường Bến Than |
| Rạch | Dòng nước nhỏ nối với sông | Đường ghe vào sâu trong ruộng, thoát nước | Các rạch đổ ra sông Sài Gòn |
Tên một con rạch hay một bàu nước cụ thể trong xã chỉ nên ghi khi đã kiểm trên bản đồ địa chính hoặc hỏi người địa phương. Nhiều rạch nhỏ đã bị lấp khi làm đường, làm kênh thủy lợi, nên tên còn trong ký ức nhiều hơn trên mặt đất.
Đình làng và nếp làng: dấu vết của thời lập làng
Ở Nam Bộ, khi một cộng đồng đủ đông và ổn định, việc lập đình là dấu mốc cho thấy làng đã thành hình. Đình là nơi thờ Thành hoàng và các vị tiền hiền, hậu hiền, những người có công khai phá và xây dựng làng, đồng thời là nơi hội họp, xử việc chung. Các làng vùng Củ Chi cũ, trong đó có các làng ven sông phía đông, cũng theo nếp này; tên đình, năm dựng và các sắc phong cụ thể của từng nơi cần được kiểm từ chính quyền địa phương hoặc ban quý tế, nên bài không nêu khi chưa chắc.
Lễ cúng đình hằng năm, thường gọi là lễ Kỳ yên, là dịp cả làng nhớ lại công ơn người mở đất. Trong văn tế và lời khấn, người ta nhắc đến tiền hiền là những người đến trước khai khẩn, hậu hiền là những người đến sau tiếp tục gây dựng. Nhờ vậy, ngay cả khi không có sổ sách ghi tên người khai phá, ký ức về công cuộc mở đất vẫn được truyền lại qua nghi lễ.
Bên cạnh đình là những miếu nhỏ ven đường, ven bến, những ngôi mộ cổ của các dòng họ lâu đời. Với người muốn tìm hiểu lịch sử khai phá, đây là những chỗ nên ghé, quan sát và hỏi chuyện người trông coi, với thái độ tôn trọng nơi thờ tự của cộng đồng.
Người xưa sống bằng gì: từ lúa, hoa màu đến thuốc lá
Trong thời gian dài, đời sống chủ yếu dựa vào lúa và hoa màu. Ruộng lúa nước ở vùng trũng ven sông, hoa màu như bắp, đậu, khoai trên đất gò. Cây ăn trái được trồng quanh nhà và dọc bờ sông, nơi đất phù sa màu mỡ. Ngoài ra người dân đánh bắt cá tôm trên sông, rạch, nuôi heo, gà, trâu bò để kéo cày.
Vùng Hóc Môn và Củ Chi cũ từng nổi tiếng với cây thuốc lá. Đất xám thoát nước tốt hợp với loại cây này, và trong nhiều thập kỷ, những ruộng thuốc lá, những lò sấy là cảnh quen ở nhiều xã. Mức độ phổ biến của cây thuốc lá ở từng xã ven sông cụ thể ra sao thì chưa có số liệu chắc chắn, nhưng đó là một phần ký ức kinh tế của cả vùng mà người lớn tuổi hay nhắc.
Sau năm 1975, nhất là từ những năm 1990 trở đi, cơ cấu nông nghiệp vùng Củ Chi thay đổi mạnh: bò sữa, rau an toàn, hoa kiểng và cây ăn trái dần thay chỗ cho lúa và thuốc lá ở nhiều nơi. Phú Hòa Đông với đất bãi ven sông, kênh thủy lợi và gần thành phố trở thành vùng có nhiều hộ nuôi bò sữa và trồng rau. Đây là một mạch nối dài của lịch sử khai phá: người dân luôn chọn cây con hợp với đất và hợp với thị trường gần nhất.
Nước tưới: từ giếng, rạch đến kênh thủy lợi
Thời trước. Ruộng lúa ven sông dựa vào nước mưa và nước sông lên xuống theo con nước, còn đất gò trông vào giếng đào. Mùa khô kéo dài là mùa khó khăn nhất với hoa màu trên gò.
Kênh thủy lợi. Hệ thống kênh dẫn nước từ hồ Dầu Tiếng ở thượng nguồn, xây dựng sau năm 1975, đã thay đổi căn bản việc tưới ở nhiều xã Củ Chi cũ. Nhờ có nước quanh năm, nhiều vùng trước chỉ làm một vụ đã làm được nhiều vụ, và việc trồng rau, trồng cỏ nuôi bò mới phát triển được.
Nước sinh hoạt. Giếng khoan vẫn phổ biến ở vùng nông thôn, song song với nước máy đang được kéo dần về các ấp. Chất lượng nước giếng ở từng nơi khác nhau, nên kiểm định trước khi dùng để ăn uống.
Điều không đổi. Dù kỹ thuật thay đổi, việc giữ kênh rạch thông thoáng, không lấp, không đổ rác vẫn là điều kiện sống còn với đồng ruộng ven sông. Ở nhiều ấp, việc nạo vét kênh mương vẫn là việc chung của cả cộng đồng.
Từ làng ruộng đến xã ven đô: lớp khai phá mới
Mấy chục năm gần đây, Phú Hòa Đông đang trải qua một đợt "khai phá" mới, không phải bằng dao rựa mà bằng xưởng, kho và nhà trọ. Dọc tỉnh lộ 15, tỉnh lộ 8 và nhiều tuyến đường liên ấp, đất ruộng chuyển dần sang đất ở, đất xưởng. Người lao động từ nhiều tỉnh về làm công nhân, thuê trọ, một số lập gia đình và ở lại. Thành phần dân cư vì thế đa dạng hơn hẳn thời làng ruộng.
Cũng như những người khai phá xưa, người đến sau chọn chỗ theo đường đi và việc làm. Nếu ngày trước người ta tìm bến sông, thì nay người ta tìm trục đường lớn, gần chỗ làm, gần chợ. Sự thay đổi ấy mang lại thu nhập mới cho nhiều gia đình cho thuê nhà, thuê đất, nhưng cũng đặt ra chuyện giữ gìn kênh rạch, môi trường và nếp sống ấp.
Điểm đáng suy nghĩ là tốc độ: người xưa mất vài thế hệ để biến rừng thưa và bưng trũng thành làng ruộng, còn đợt chuyển đổi hiện nay diễn ra chỉ trong vài chục năm. Khi đất ruộng thành nền nhà, những dấu vết của thế đất cũ như láng, bàu, rạch nhỏ dễ biến mất trước khi kịp được ghi lại. Đó cũng là lý do tên đất dân gian trên tên ấp, tên đường càng đáng giữ.
Việc sáp nhập năm 2025 thành xã Phú Hòa Đông mới, với bờ sông bên kia cũng về chung một thành phố, mở ra một chương khác của câu chuyện. Hướng đi cụ thể của xã phụ thuộc vào quy hoạch của thành phố; người dân nên theo dõi thông tin chính thức thay vì nghe đồn, nhất là trong các quyết định liên quan đến đất đai.
Câu hỏi thường gặp
Ai là người đầu tiên khai phá Phú Hòa Đông?
Chưa có tư liệu phổ thông nào ghi tên người khai phá đầu tiên hay năm lập làng. Bức tranh chung là người Việt đến theo đường sông từ thế kỷ 17, 18, lập xóm trên đất gò và mở ruộng xuống vùng trũng ven sông. Gia phả các dòng họ lâu đời trong xã có thể cho thêm manh mối.
Vì sao nhà ở vùng ven sông Củ Chi thường dựng trên đất cao?
Vì đất trũng sát sông dễ ngập khi mưa lớn hay nước sông dâng. Người xưa chọn đất gò cao ráo để dựng nhà, đào giếng, còn đất trũng dành làm ruộng. Ngày nay khi xây nhà vẫn nên tìm hiểu cao độ nền và lịch sử ngập của khu đất.
Củ Chi trồng thuốc lá từ bao giờ?
Không có mốc chắc chắn trong tầm tư liệu của bài này. Điều được nhiều người biết là vùng Hóc Môn – Củ Chi từng nổi tiếng với cây thuốc lá trên đất xám trong nhiều thập kỷ, trước khi cơ cấu nông nghiệp chuyển sang bò sữa, rau và cây ăn trái.
Kênh thủy lợi ở Phú Hòa Đông lấy nước từ đâu?
Hệ thống kênh thủy lợi ở vùng Củ Chi cũ lấy nước từ hồ Dầu Tiếng ở thượng nguồn sông Sài Gòn. Đường đi của từng nhánh kênh trong xã nên xem trên bản đồ thủy lợi hoặc hỏi tổ chức quản lý thủy nông của địa phương.
Chữ "láng" trong tên đất có nghĩa gì?
Trong tiếng Nam Bộ, láng chỉ vùng đất trũng, hay đọng nước, thường mọc cỏ lác. Tên đường Láng The ở Phú Hòa Đông giữ lại từ này, cho thấy nơi ấy xưa có thể là vùng đất thấp. Nghĩa của chữ đi kèm thì chưa rõ.
Muốn tìm hiểu lịch sử dòng họ mình ở Phú Hòa Đông bắt đầu từ đâu?
Bắt đầu từ gia phả, bàn thờ và mộ phần của dòng họ, rồi hỏi người lớn tuổi về đời ông bà đến từ đâu, sống bằng nghề gì. Giấy tờ đất cũ, bằng khoán thời Pháp và các sổ sách của đình làng nếu còn cũng là nguồn quý.