Một chuồng bò sữa ổn định ở Phú Hòa Đông cần làm được hai việc cùng lúc: giữ cho bò mát trong mùa nắng gắt và xử lý được phân, nước thải để không gây mùi, không chảy tràn ra xóm. Phần lớn hộ dùng mái cao thoáng, quạt, phun sương để chống nóng, và dùng hầm biogas, hồ lắng, phơi phân hoặc ép phân để xử lý chất thải.
Hai việc này liên quan đến nhau nhiều hơn người ta tưởng. Chuồng nóng thì bò uống nhiều, tắm nhiều, nước thải nhiều; nước thải nhiều mà hầm nhỏ thì tràn, gây mùi; mùi thì sinh va chạm khi nhà trọ, nhà ở mọc dần quanh chuồng. Bài này đi qua từng phần, theo kinh nghiệm chung của nghề và điều kiện ở vùng Củ Chi cũ.
Vì sao bò sữa ở đây sợ nóng hơn sợ mưa
Giống bò sữa phổ biến ở Phú Hòa Đông là bò lai HF, tức mang máu bò Holstein Friesian, giống bò có nguồn gốc vùng khí hậu ôn đới. Bò HF cho nhiều sữa nhưng sinh nhiệt lớn trong quá trình tiêu hoá và tạo sữa, trong khi khả năng toả nhiệt kém. Khi nhiệt độ và độ ẩm không khí cùng cao, bò rơi vào trạng thái căng thẳng vì nóng, hay nói gọn là stress nhiệt.
Dấu hiệu dễ thấy là bò thở nhanh, há miệng thở, chảy dãi, đứng nhiều nằm ít, tụ quanh chỗ có nước, ăn ít hẳn. Hệ quả kéo theo là sữa giảm, tỷ lệ béo giảm, bò khó lên giống và khó đậu thai, sức đề kháng kém nên dễ viêm vú và bệnh khác. Có những đợt nắng nóng kéo dài, sản lượng sữa của cả đàn giảm thấy rõ chỉ sau vài ngày.
Mùa khô ở vùng Củ Chi cũ thường có những tuần nắng gắt, trưa hầm hập, và ngay cả mùa mưa thì giữa các cơn mưa trời vẫn oi. Vì vậy với người nuôi bò ở đây, chống nóng không phải việc theo mùa mà là việc quanh năm, chỉ mạnh nhẹ khác nhau.
Những cách chống nóng hộ nuôi thường dùng
Mái cao, thoáng, có khe thoát nhiệt. Mái tôn thấp hắt nhiệt xuống lưng bò. Nhiều hộ nâng mái, làm mái hai lớp hoặc có khe ở nóc để khí nóng thoát lên. Một số nhà lót thêm lớp cách nhiệt dưới tôn hoặc trồng giàn cây leo, hàng cây quanh chuồng để giảm nắng chiếu trực tiếp.
Quạt công nghiệp đặt đúng hướng. Quạt thổi dọc theo dãy bò nằm, đặt nghiêng xuống thân bò chứ không thổi lên trần. Quạt cần chạy liên tục vào giờ nóng, và tiền điện là khoản chi phí thường xuyên mà người mới hay tính thiếu.
Phun sương hoặc phun nước kết hợp quạt. Nước bốc hơi trên da kéo nhiệt ra khỏi cơ thể bò. Phun nhưng không có quạt dễ làm chuồng ẩm, oi hơn. Cần giữ nền thoát nước tốt để không đọng nước, gây bệnh móng.
Tắm, xịt nước vào giờ trưa. Cách làm truyền thống, tốn công nhưng hiệu quả với nhà ít bò. Nên xịt vào lưng, cổ, tránh dội thẳng vào bầu vú trước cữ vắt.
Nước uống mát, sạch, không bao giờ cạn. Bò đang cho sữa uống rất nhiều nước, càng nóng uống càng nhiều. Bồn nước để dưới nắng sẽ nóng lên; nên che bồn, đặt máng nơi bò dễ tới.
Đổi giờ cho ăn. Cho ăn nhiều vào sáng sớm và chiều tối mát, giảm lượng giữa trưa, giúp bò ăn đủ dù trời nóng.
Phân và nước thải: một con bò sinh ra bao nhiêu chất thải
Một con bò sữa thải ra mỗi ngày một lượng phân và nước tiểu lớn, cộng thêm nước rửa chuồng, nước tắm bò, nước rửa máy vắt. Với một đàn vài chục con, lượng chất thải mỗi ngày tính bằng hàng khối. Nếu chỉ xịt rửa rồi cho chảy ra mương, chỉ vài tuần là mương bốc mùi, ruồi nhặng tụ về, nước ngấm vào đất, vào giếng nhà bên.
Trước đây, khi xung quanh chuồng còn là ruộng, nhiều nhà xả thẳng ra ruộng cỏ và coi đó là tưới phân. Nay khu dân cư dày lên, đường ấp được bê tông hoá, mương thoát nước chung cả xóm, cách làm này không còn chấp nhận được. Quy định về bảo vệ môi trường trong chăn nuôi cũng chặt hơn, và chính quyền xã thường nhận phản ánh về mùi chuồng trại.
Vì vậy, xử lý chất thải bây giờ là một phần chi phí bắt buộc của nghề, giống như tiền cám, tiền thuốc. Hộ nào tính kế hoạch nuôi mà bỏ qua khoản này thường gặp rắc rối sau vài năm, khi xóm đã đông người.
So sánh các cách xử lý chất thải hay gặp ở hộ nuôi bò
Mỗi cách có chỗ mạnh, chỗ yếu; nhiều hộ kết hợp hai, ba cách. Bảng dưới chỉ so về nguyên lý, chi phí thực tế phụ thuộc quy mô và vật liệu:
| Cách xử lý | Làm gì | Ưu điểm | Điều cần chú ý |
|---|---|---|---|
| Hầm biogas | Cho phân, nước thải vào hầm kín để lên men yếm khí | Giảm mùi, có khí đốt nấu ăn, nước sau hầm dùng tưới | Hầm nhỏ so với đàn sẽ quá tải, tràn; phải đề phòng rò khí, an toàn khi vệ sinh hầm |
| Hồ lắng nhiều ngăn | Nước thải chảy qua các ngăn cho cặn lắng dần | Rẻ, dễ làm, kết hợp sau biogas | Tốn đất; hồ hở vẫn có mùi nếu quá tải |
| Xúc phân khô, phơi | Gom phân đặc riêng, phơi khô đóng bao | Có phân bán cho vườn rau, cây trái | Tốn công, cần sân phơi, mùa mưa khó phơi |
| Máy ép tách phân | Tách phần rắn khỏi nước thải bằng máy | Phân khô nhanh, nước thải loãng dễ xử lý tiếp | Đầu tư ban đầu cao, hợp với đàn lớn |
| Nuôi trùn quế trên phân bò | Dùng phân làm thức ăn cho trùn | Ra phân trùn giá trị, trùn làm thức ăn gia cầm, cá | Cần học kỹ thuật, kiểm soát ẩm, nhiệt |
Điểm chung là không cách nào xử lý được chất thải của một đàn lớn trong một diện tích quá nhỏ. Khi chuồng không còn đất cho hầm, hồ, sân phơi, đó là dấu hiệu quy mô đàn đã vượt sức chứa của khu đất.
Hầm biogas: lợi ích thật và những điều hay bị bỏ qua
Hầm biogas đã quen thuộc với nhiều hộ nuôi bò ở Phú Hòa Đông. Phân và nước thải được dẫn vào hầm kín, vi sinh vật phân huỷ trong điều kiện không có không khí, sinh ra khí đốt chủ yếu là khí mê-tan, dẫn về bếp nấu ăn. Mùi giảm rõ, ruồi ít đi, tiền ga nấu bếp gần như không mất, và nước sau hầm loãng hơn, dùng tưới cỏ, tưới cây.
Nhưng hầm biogas không phải thùng chứa vô hạn. Hầm được tính theo lượng chất thải tại thời điểm xây; khi đàn tăng mà hầm giữ nguyên, phân vào nhiều hơn khả năng phân huỷ, nước ra vẫn đặc, vẫn mùi. Hầm cũ có thể nứt, rò, khí bị xì. Túi biogas bằng vật liệu dẻo đặt nổi dễ bị thủng khi có vật nhọn hay chuột cắn.
An toàn là điều phải nói rõ. Khí trong hầm có thể gây ngạt và cháy nổ. Không ai được xuống hầm biogas để vệ sinh, sửa chữa khi chưa thông khí kỹ và không có người đứng trên trông chừng; đã có những tai nạn đáng tiếc ở nhiều nơi vì chủ quan với việc này. Khi cần nạo vét, sửa hầm, nên thuê thợ có kinh nghiệm, có đồ bảo hộ.
Giữ hoà khí với xóm khi nhà trọ, nhà ở mọc quanh chuồng
Ở nhiều ấp của Phú Hòa Đông, Tân Thạnh Đông, Tân Thạnh Tây cũ, cảnh chuồng bò nằm sát vách dãy nhà trọ hay nhà mới xây không còn hiếm. Người ở trọ đi làm xưởng về, mở cửa sổ là thấy mùi; nhà mới xây của người trong thành phố về mua đất càng nhạy với chuyện này. Va chạm xảy ra không hẳn vì ai xấu, mà vì hai lối sống khác nhau đặt cạnh nhau.
Hộ nuôi lâu năm có vài cách giữ hoà khí: dọn chuồng đều đặn mỗi ngày chứ không để dồn; không xả nước thải ra mương chung; trồng hàng cây xanh làm vách ngăn; xử lý ruồi bằng vệ sinh và bẫy thay vì phun thuốc tràn lan; báo trước cho hàng xóm khi nạo vét hầm, chở phân. Khi có phản ánh, ngồi nói chuyện trực tiếp thường hiệu quả hơn để sự việc lên tới chính quyền.
Về lâu dài, một số hộ chọn dời chuồng ra ruộng xa khu dân cư hoặc gom đàn về nơi có quy hoạch chăn nuôi. Đây là quyết định lớn, cần tìm hiểu quy hoạch sử dụng đất và quy định về khu vực được phép chăn nuôi của thành phố, hỏi trực tiếp UBND xã trước khi đầu tư chuồng mới.
Nền chuồng, máng ăn và lối đi: chi tiết nhỏ quyết định sức khoẻ đàn
Bò sữa đứng và nằm trên nền chuồng gần như suốt đời, nên nền là thứ ảnh hưởng trực tiếp đến móng và bầu vú. Nền bê tông quá trơn làm bò trượt ngã, nhất là bò chửa nặng; nền quá nhám làm mòn móng. Nhiều hộ ở Phú Hòa Đông kẻ rãnh chống trơn trên nền bê tông, có độ dốc vừa đủ để nước chảy về rãnh thoát, và lót thảm cao su ở chỗ bò nằm để giảm chấn thương khớp, giảm viêm vú do nằm trên nền ướt lạnh.
Máng ăn đặt cao vừa tầm, đủ dài để con yếu không bị con mạnh hất ra; máng nước rửa được dễ dàng, không để rêu bám. Lối đi giữa hai dãy đủ rộng để xe chở cỏ, xe đẩy máy vắt di chuyển. Những chuồng xây từ thời đàn ít, sau mở rộng chắp vá, thường gặp cảnh lối đi chật, rãnh thoát nước gãy khúc, nước đọng ở góc chuồng.
Khi sửa hay xây mới, nên hỏi kinh nghiệm của các hộ trong xã đã làm chuồng mới gần đây, và hỏi kỹ thuật viên của đơn vị thu mua sữa hoặc khuyến nông về kích thước ô nằm, độ dốc nền, chiều cao mái phù hợp với giống bò mình nuôi.
Ruồi, muỗi và chuột: ba vị khách không mời quanh chuồng bò
Ruồi là thứ hàng xóm thấy đầu tiên, và cũng là thứ làm bò khó chịu, giảm ăn, có thể truyền bệnh. Ruồi đẻ trứng trong phân ẩm, thức ăn thừa lên men, nên cách giảm ruồi hiệu quả nhất vẫn là dọn phân mỗi ngày, không để thức ăn thừa ôi trong máng, giữ khu phơi phân gọn. Bẫy ruồi, giấy dính, chế phẩm sinh học xử lý phân là phần bổ trợ. Phun thuốc diệt ruồi tràn lan quanh chuồng vừa tốn, vừa có nguy cơ dính vào thức ăn, nước uống và cả sữa.
Muỗi nhiều ở vùng có mương nước đọng, hồ lắng hở, nhất là mùa mưa ở các xã ven sông như Phú Hòa Đông. Khơi thông rãnh, không để vật chứa nước đọng quanh chuồng giúp giảm muỗi cho cả nhà nuôi lẫn xóm. Chuột thì tìm đến kho cám, kho rơm; kho cần nền cao, cửa kín, bao cám đặt trên kệ, và nếu dùng bả chuột phải đặt nơi bò, chó mèo, trẻ nhỏ không tới được.
Những việc này nghe vụn vặt, nhưng chính chúng làm nên khác biệt giữa một chuồng bò mà hàng xóm chấp nhận được và một chuồng bị phản ánh liên tục.
Câu hỏi thường gặp
Bò sữa bị nóng có những dấu hiệu gì?
Bò thở nhanh, há miệng thở, chảy dãi, đứng nhiều hơn nằm, tụ quanh máng nước và ăn ít hẳn. Sữa giảm và béo giảm sau vài ngày nóng. Khi thấy các dấu hiệu này, cần tăng quạt, phun sương, cho uống nước mát và gọi thú y nếu bò bỏ ăn kéo dài.
Phun sương cho bò có làm chuồng ẩm, sinh bệnh không?
Có thể, nếu phun mà không có quạt hoặc nền chuồng thoát nước kém. Phun sương hiệu quả nhất khi đi cùng quạt để nước bốc hơi nhanh, và nền phải khô ráo giữa các đợt phun. Nền đọng nước lâu ngày làm bò dễ bị bệnh móng và viêm vú.
Hầm biogas có cần nạo vét không?
Theo thời gian, cặn và chất khó phân huỷ tích tụ trong hầm làm giảm thể tích và hiệu quả, nên cần vệ sinh định kỳ. Việc này nguy hiểm vì khí trong hầm có thể gây ngạt và cháy nổ; tuyệt đối không xuống hầm khi chưa thông khí kỹ, tốt nhất thuê thợ có kinh nghiệm và đồ bảo hộ.
Phân bò khô ở Phú Hòa Đông thường bán cho ai?
Phân bò khô thường được các vườn rau, vườn cây ăn trái, vườn kiểng trong vùng và nơi khác mua về ủ làm phân bón. Một số hộ bán qua người thu gom. Phân nên được phơi khô, đóng bao gọn để dễ bán và tránh mùi khi chở.
Hàng xóm phản ánh mùi chuồng bò thì nên làm gì?
Trước hết nên xem lại khâu dọn chuồng, hầm biogas có quá tải không, nước thải có chảy ra mương chung không. Sau đó trao đổi trực tiếp, cho hàng xóm biết mình sẽ khắc phục thế nào và trong bao lâu. Giải quyết sớm, thiện chí thường tránh được việc phải giải trình với chính quyền.
Có được xây chuồng bò mới gần khu dân cư không?
Điều này phụ thuộc vào quy định về khu vực được phép chăn nuôi, khoảng cách và điều kiện vệ sinh môi trường mà thành phố ban hành, có thể thay đổi theo thời gian. Trước khi xây, hãy hỏi bộ phận nông nghiệp và môi trường của UBND xã Phú Hòa Đông để biết khu đất của mình có phù hợp không.