PhuHoaDong.comPhú Hòa Đông
Bò sữa, rau và cây trái

Trồng cỏ nuôi bò ở Phú Hòa Đông: cỏ voi, cỏ cao sản, rơm và chuyện tự chủ thức ăn

Vì sao ruộng lúa ở Phú Hòa Đông chuyển sang trồng cỏ, các giống cỏ hay dùng, lịch cắt, ủ chua, mua rơm và cách tính đủ thức ăn thô cho đàn bò sữa quanh năm.

Wide view of tall green elephant grass plots beside an irrigation canal, a farmer far away loading cut grass onto a small motor cart, bright late morning sun

Ở Phú Hòa Đông, phần lớn hộ nuôi bò sữa tự trồng cỏ trên ruộng của mình hoặc ruộng thuê, chủ yếu là cỏ voi và các giống cỏ cao sản cắt nhiều lứa trong năm, rồi bổ sung bằng rơm và thức ăn ủ chua vào những tháng cỏ thiếu. Chủ động được cỏ là điều kiện sống còn: nhà phải mua toàn bộ thức ăn thô thường khó có lời.

Cảnh ruộng cỏ xanh cao quá đầu người xen giữa ruộng lúa, vườn rau đã thành quen thuộc ở Phú Hòa Đông, Tân Thạnh Đông, Tân Thạnh Tây cũ. Đằng sau là một phép tính đơn giản: bò sữa ăn nhiều thức ăn thô mỗi ngày, và cỏ là phần mà nông hộ tự làm ra được rẻ nhất.

Bài này đi qua các loại cỏ hay gặp, cách chăm ruộng cỏ trong điều kiện đất và nước ở đây, lịch cắt, ủ chua, và cách ước lượng ruộng cỏ có đủ cho đàn bò hay không.

Vì sao bò sữa cần nhiều cỏ đến vậy

Bò là động vật nhai lại, dạ cỏ của nó là một "nồi lên men" lớn nhờ vi sinh vật phân giải chất xơ. Thiếu chất xơ, dạ cỏ hoạt động kém, bò dễ chướng hơi, rối loạn tiêu hoá, và sữa giảm béo. Vì vậy dù cám hỗn hợp cho năng lượng và đạm cao, bò sữa vẫn cần lượng lớn thức ăn thô như cỏ tươi, rơm, cỏ khô hoặc thức ăn ủ chua.

Mỗi con bò sữa trưởng thành ăn mỗi ngày một lượng cỏ tươi tính bằng vài chục ký, nhiều hay ít tuỳ khối lượng, sản lượng sữa và loại cỏ. Nhân với số bò, nhân với ba trăm sáu mươi lăm ngày, sẽ thấy lượng cỏ một hộ cần trong năm là rất lớn. Đây là lý do vì sao nhà nuôi bò nào cũng nhìn đất trước khi nhìn chuồng.

Ở vùng ven đô như Phú Hòa Đông, đất ngày càng đắt và bị chia nhỏ, nên bài toán cỏ càng căng. Nhiều nhà thuê thêm ruộng của người không làm lúa nữa; có nơi ruộng cỏ nằm cách chuồng khá xa, mỗi ngày phải chở cỏ đi về nhiều chuyến.

Các loại cỏ và thức ăn thô hay gặp ở vùng Củ Chi cũ

Cỏ voi và các giống lai của cỏ voi. Thân cao, năng suất lớn, chịu được đất xám, cắt được nhiều lứa. Cần băm nhỏ khi cho ăn vì thân già cứng. Đây là loại cỏ quen thuộc nhất trên ruộng cỏ của các hộ nuôi bò ở đây.

Cỏ sả và các giống cỏ thân bụi. Lá mềm, bò thích ăn, mọc thành bụi, chịu cắt khá tốt. Một số giống cỏ sả cao sản được khuyến nông giới thiệu cho vùng Đông Nam Bộ.

Cỏ lai năng suất cao khác. Một số giống cỏ mới có hàm lượng dinh dưỡng tốt hơn cỏ voi thường, được trồng thử ở nhiều hộ. Trước khi đổi giống nên hỏi hộ đã trồng về khả năng chịu hạn, chịu úng trên đúng loại đất của mình.

Rơm lúa. Là thức ăn thô rẻ, giàu xơ nhưng nghèo dinh dưỡng. Nhiều hộ mua rơm cuộn chở từ các tỉnh trồng lúa về để dự trữ cho mùa khô hoặc khi ruộng cỏ bị ngập.

Thân, lá bắp và thức ăn ủ chua. Cây bắp sau thu trái hoặc bắp trồng riêng để ủ chua là nguồn thức ăn thô có năng lượng khá, dễ trữ lâu nếu ủ đúng cách.

Phụ phẩm. Bã bia, bã mì, vỏ trái cây, ngọn mía tuỳ nguồn có sẵn. Phụ phẩm rẻ nhưng chất lượng không đều, phải bảo quản kỹ để không bị mốc, thối.

Chăm ruộng cỏ trên đất xám và nước kênh

Phần lớn đất trồng ở Phú Hòa Đông là đất xám nhẹ, dễ thoát nước nhưng nghèo dinh dưỡng, xen với dải đất phù sa ven sông Sài Gòn và những vùng trũng hay ngập. Cỏ voi chịu được đất xám nhưng muốn cắt nhiều lứa năng suất cao thì cần bón phân đều, và phân bò của chính đàn bò là nguồn phân hữu cơ sẵn có nhất. Nhiều nhà tưới nước phân từ hầm biogas hoặc hồ lắng ra ruộng cỏ, khép kín một vòng từ chuồng ra ruộng rồi từ ruộng về chuồng.

Nước tưới mùa khô lấy từ các kênh thuộc hệ thống thuỷ lợi lấy nước từ hồ Dầu Tiếng chảy qua vùng Củ Chi cũ, hoặc từ giếng khoan. Ruộng gần kênh tưới thuận tiện hơn; ruộng xa kênh phải bơm, tốn điện, dầu. Mùa mưa thì ngược lại, ruộng trũng ven sông có thể bị ngập vài ngày khi mưa lớn gặp triều cường, cỏ bị úng, thối gốc.

Một ruộng cỏ sau nhiều năm cắt liên tục sẽ thưa gốc, năng suất giảm. Hộ có kinh nghiệm thường trồng lại theo luân phiên từng phần ruộng, để lúc nào cũng có phần cỏ đang sung sức. Làm cỏ dại, dặm gốc chết và bón lót sau mỗi lần cắt là những việc nhỏ giữ cho ruộng bền.

Ước lượng ruộng cỏ có đủ cho đàn bò không (cách tính minh hoạ)

Không có con số chung cho mọi nhà, nhưng có thể tự ước lượng theo các bước trong bảng. Các con số cụ thể phải lấy từ chính ruộng và đàn của bạn, hoặc hỏi cán bộ khuyến nông:

BướcCần biếtCách lấy số
1Lượng cỏ tươi mỗi con ăn mỗi ngàyCân thử lượng cỏ cho ăn và lượng bỏ thừa trong vài ngày
2Tổng lượng cỏ đàn cần trong nămNhân bước 1 với số bò và số ngày, tính riêng bò vắt, bò cạn, bê
3Năng suất ruộng mỗi lứa cắtCân cỏ cắt từ một phần ruộng đã đo diện tích
4Số lứa cắt trong nămĐếm theo thực tế mùa mưa, mùa khô của ruộng mình
5Diện tích cần cóLấy bước 2 chia cho tích bước 3 và bước 4
6Phần thiếuBù bằng rơm, ủ chua hoặc mua cỏ; tính trước chi phí

Kết quả thường cho thấy mùa khô là lúc thiếu cỏ nhất, vì cỏ mọc chậm khi nước tưới hạn chế. Vì thế việc trữ rơm, ủ chua từ mùa mưa là cách để không phải mua cỏ giá cao lúc khan.

Nếu phần thiếu quá lớn so với khả năng mua, đó là tín hiệu nên dừng tăng đàn, hoặc tìm thêm đất trồng cỏ trước khi mua thêm bò.

Ủ chua cỏ hoặc thân bắp cho mùa khô

Ủ chua là cách lên men yếm khí để giữ thức ăn xanh lâu ngày. Quy trình cơ bản mà các lớp khuyến nông thường hướng dẫn:

  1. Cắt cỏ hoặc thân bắp đúng độ, không quá non nhiều nước, không quá già xơ cứng; phơi tái nếu còn quá ướt.
  2. Băm nhỏ đều để dễ nén chặt.
  3. Cho vào hầm ủ, túi ủ chuyên dụng hoặc bao nilon dày, nén thật chặt từng lớp để đẩy hết không khí.
  4. Có thể bổ sung chất hỗ trợ lên men như rỉ mật đường theo hướng dẫn kỹ thuật.
  5. Đậy kín, chặn chặt, tránh nước mưa và chuột cắn rách.
  6. Sau thời gian ủ đủ ngày theo hướng dẫn, mở ra kiểm: thức ăn ủ tốt có mùi chua dịu, màu vàng xanh; mốc trắng, mốc đen hay mùi thối thì bỏ phần đó, không cho bò ăn.
  7. Mỗi lần lấy ra một lượng vừa đủ cho bò ăn trong ngày rồi đậy kín lại ngay.

Ủ chua không làm thức ăn bổ hơn cỏ tươi, nhưng giúp có thức ăn ổn định khi cỏ tươi khan, và tận dụng được thân bắp sau thu hoạch. Thức ăn ủ hỏng có thể gây bệnh cho bò, nên khâu kiểm khi mở là bắt buộc.

Mua cỏ, mua rơm: khi nào đáng và rủi ro gì

Không phải hộ nào cũng có đủ đất. Ở Phú Hòa Đông có những nhà gần như mua hết thức ăn thô: mua cỏ tươi theo xe từ người trồng cỏ chuyên, mua rơm cuộn từ các tỉnh lúa. Cách này giải quyết được chuyện thiếu đất, nhưng đổi lại phụ thuộc hoàn toàn vào giá và nguồn hàng. Vào mùa khô, khi nhiều nhà cùng cần, giá cỏ và rơm thường lên, chất lượng không đều.

Rơm cuộn chở từ xa cần kiểm độ ẩm, mùi mốc trước khi nhận; rơm mốc vừa giảm dinh dưỡng vừa có thể chứa độc tố nấm. Cỏ tươi mua theo xe nên xem tuổi cỏ, cỏ già quá bò bỏ thừa nhiều. Nếu mua thường xuyên, nên giữ mối với một vài người cung cấp quen, thoả thuận trước về chất lượng.

Cũng có nông hộ trong xã chọn hướng ngược lại: không nuôi bò nữa mà chuyên trồng cỏ bán cho hộ nuôi. Đây là một cách tận dụng ruộng khi không còn làm lúa, nhưng đầu ra phụ thuộc vào đàn bò quanh vùng, đàn giảm thì người trồng cỏ cũng khó.

Cỏ theo hai mùa: mưa thì dư, khô thì thiếu

Khí hậu vùng Củ Chi cũ chia rõ hai mùa. Mùa mưa thường từ khoảng tháng năm đến tháng mười một, cỏ mọc nhanh, nhiều nhà cắt không kịp, cỏ già đi, xơ cứng, bò ăn bỏ thừa. Mùa khô từ khoảng tháng mười hai đến tháng tư năm sau, nắng gắt, ít mưa, cỏ chậm lớn, ruộng xa kênh khô nứt. Nhịp mưa nắng mỗi năm xê dịch, có năm mưa đến sớm, có năm khô kéo dài, nên những mốc tháng trên chỉ nên hiểu là thường lệ.

Hộ nuôi giỏi tận dụng chính sự chênh lệch này: mùa mưa cắt cỏ đúng lứa, phần dư đem ủ chua; cuối mùa lúa ở các vùng khác thì mua rơm cuộn trữ sẵn trong kho có mái che. Đến mùa khô, khẩu phần được chuyển dần sang có thêm thức ăn ủ và rơm, tránh thay đổi đột ngột làm bò rối loạn tiêu hoá.

Mùa mưa cũng có cái khó riêng. Ruộng cỏ trũng ven sông có thể bị ngập khi mưa lớn trùng với đợt nước lên, cỏ bị úng, bùn bám thân khiến bò không chịu ăn. Cỏ cắt về trong mưa dễ ẩm mốc nếu để dồn đống. Vì vậy nhà nào có ruộng cỏ ở cả đất cao lẫn đất thấp thường chủ động hơn nhà chỉ có một loại ruộng.

Ruộng cỏ, đất đai và sự thay đổi của làng

Trước kia, phần lớn ruộng ở vùng đất Phú Hòa Đông, Tân Thạnh Đông, Tân Thạnh Tây là ruộng lúa. Lúa trên đất xám năng suất không cao, công làm nhiều, nên khi nghề bò sữa phát triển, nhiều chân ruộng chuyển sang trồng cỏ, rau hoặc cây lâu năm. Nhìn từ đường quê, ruộng cỏ là dấu hiệu dễ nhận ra nhất của một xóm có nhiều nhà nuôi bò.

Ngày nay, áp lực lên những ruộng cỏ này đến từ nhiều phía: đất được chia cho con cháu làm nhà, xây nhà trọ, làm xưởng; giá đất cao khiến người cho thuê ruộng muốn thu lại. Một hộ nuôi bò có thể mất ruộng cỏ thuê chỉ sau một mùa, và phải đi tìm ruộng xa hơn hoặc giảm đàn.

Vì thế nhiều người trong nghề khuyên: trước khi tăng đàn, hãy chắc chắn về nguồn cỏ trong vài năm tới, ưu tiên ruộng của gia đình hoặc thuê có hợp đồng rõ thời hạn. Bò có thể bán trong một ngày, nhưng ruộng cỏ thì cần nhiều tháng mới trồng lại được.

Câu hỏi thường gặp

Ruộng lúa ở Phú Hòa Đông có được chuyển sang trồng cỏ không?

Chuyển từ trồng lúa sang trồng cỏ, cây hằng năm là chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên đất trồng lúa, thường phải đăng ký với Uỷ ban nhân dân cấp xã theo quy định hiện hành và không được làm hỏng điều kiện trồng lúa lại. Hãy hỏi bộ phận nông nghiệp của UBND xã Phú Hòa Đông trước khi chuyển.

Một con bò sữa ăn bao nhiêu cỏ mỗi ngày?

Lượng ăn phụ thuộc khối lượng bò, sản lượng sữa, loại cỏ và khẩu phần cám đi kèm, nên không có con số chung đúng cho mọi nhà. Cách chắc nhất là cân lượng cỏ cho ăn và lượng bỏ thừa trong vài ngày, rồi nhờ kỹ thuật viên khuyến nông hoặc đơn vị thu mua sữa xem khẩu phần.

Có nên thay toàn bộ cỏ bằng rơm cho rẻ không?

Không nên. Rơm giàu xơ nhưng nghèo đạm và năng lượng; bò ăn toàn rơm sẽ giảm sữa, gầy và khó đậu thai. Rơm chỉ nên là phần bổ sung, nhất là khi cỏ tươi thiếu, và phải đi kèm khẩu phần cám tính toán phù hợp.

Thức ăn ủ chua bị mốc một phần thì có cho bò ăn được không?

Phần mốc, có mùi thối hoặc biến màu đen phải bỏ, không cho bò ăn vì có thể chứa độc tố gây bệnh. Chỉ dùng phần có mùi chua dịu, màu vàng xanh. Nếu mốc lan rộng, xem lại khâu nén chặt và đậy kín ở lần ủ sau.

Tưới phân bò lỏng ra ruộng cỏ có vấn đề gì không?

Tận dụng phân bò làm phân bón là cách tốt, nhưng nên dùng phân đã qua hầm biogas hoặc ủ hoai, tưới vừa phải và tránh chảy tràn xuống kênh, mương chung. Quy định về xả thải ra môi trường có thể áp dụng, nên hỏi xã về cách làm đúng.

Trồng cỏ bán cho hộ nuôi bò có phải hướng đi ổn định không?

Có thể là một cách tận dụng ruộng, nhưng đầu ra phụ thuộc vào đàn bò trong vùng. Khi đô thị hoá làm đàn bò quanh xã giảm, người trồng cỏ cũng khó bán. Nên giữ mối với nhiều hộ nuôi và tính thêm phương án cây trồng khác.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.